Danmmm!!!!! Chiều nay điên hết cả tiết. Nói chung nhiều lúc mình thấy mệt mỏi với cái sự THIẾU TẾ NHỊ, THIẾU NHẠY CẢM của người khác VÔ CÙNG!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

Năm nào đến hè cũng chờ đợi một khoảnh khắc, là giây phút đầu tiên trong mùa nhìn thấy phượng. Năm nay nhìn thấy bông phượng đầu tiên của mùa ở trong viện. Ngoảnh ra, đã bừng lên ở đó, một góc trời,  sắc hoa đỏ thắm đến nao lòng.  Bất ngờ, sững sờ và rưng rưng:  ôi loài hoa tôi yêu, phượng ơi phượng ơi.. Phượng lại trở về vào mùa của những cơn mưa, như một niềm an ủi, rằng dẫu có bao năm tháng chia xa,  màu hoa ấy, vẫn còn nguyên ở đó, cháy lên trong lặng lẽ như một tình yêu thủy chung, tha thiết.

Đến bây giờ, đã bao nhiêu năm trôi qua, vậy mà mỗi lần nghe những câu hát  ”những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng, em chở mùa hè của tôi đi đâu” vẫn thấy tràn ngập cả tâm hồn hình ảnh một buổi trưa tháng 6, nắng mê man, cái nắng làm làm người trở nên trống trải bồi hồi, và có phải vì nắng hay màu hoa chói lói mà người như lịm đi trong cơn say nôn nao của mùa hè, trong đáy mắt chỉ còn lại màu hoa đỏ ngời tha thiết giữa vô tận trời xanh.

Ôi cái màu hoa sao mà da diết thế, cảnh mỏng manh, mà mạnh mẽ, hoa khát khao điều gì mà cháy ngời mê mải, biết lòng tôi yêu nhiều yêu nhiều lắm không.

Mình hay không thích tên bố mẹ đặt, tên Phượng nghe cứ hơi nặng, chỉ gặp trong phim ảnh là nhiều, nên thấy nó cứ hơi có tính kịch sao đó. Chỉ đến mùa hè, thấy phượng nở ngát trời, mới có một nỗi an ủi và tự hào âm thầm, đúng là bố, vì sinh con vào tháng 6 nên muốn con mang cái tên hoa của mùa hè . Và chẳng biết có phải thế hay không mà sao mình yêu loài hoa này đến thế, chẳng có thứ hoa nào khiến mình thổn thức, xao xuyến đến rơi nước mắt như thế.

Phượng bao giờ cũng đến bất ngờ, một ngày kia, trên con phố quen thuộc, cũ kĩ và tẻ nhạt, lấp lánh trong màu trời xanh vời vợi những cánh hoa đỏ ngời, kiêu hãnh, bình yên.  Phượng như một giấc mơ mùa hè ru lòng người về ấu thơ, mơ về những trưa hè hoang vắng, đi trên những con phố rộng thênh thang, đứa bé học trò từ giã những ngày thi, lòng vừa tràn đầy thảnh thơi nôn nao bước vào kì nghỉ dài đầy nắng và cỏ hoa, hay cô nữ sinh tuổi mười mấy bâng khuâng đi dưới những hàng cây xanh, lao xao những chùm hoa đỏ, lòng vẩn vơ nghĩ gì về những ngày tháng chia xa..

Mỗi mùa hoa đỏ về hoa như mưa rơi rơi
Mỗi mùa hoa đỏ về hoa như mưa rơi rơi
Mỗi mùa hoa đỏ về hoa như mưa rơi rơi

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
bước lặng trên con đường vắng năm nao
Chỉ có tiếng ve ồn ào mà chẳng cho lòng người yên chút nào
Anh mải mê về một màu mây xa
cánh buồm bay về một thời đã qua
em thầm hát một câu thơ cũ
về một thời thiếu nữ say mê( về một thời hoa đỏ diệu kỳ )
Mỗi mùa hoa đỏ về hoa như mưa rơi rơi
cánh mỏng manh xao xác đỏ tươi
như nuối tiếc một thời trai trẻ
Mỗi mùa hoa đỏ về hoa như mưa rơi rơi
như tháng ngày xưa ta dại khờ
ta nhìn sâu vào trong mắt nhau
trong câu thơ của em anh không có mặt
Câu thơ hát về một thời yêu đương
anh đâu buồn mà chỉ tiếc
em không đi hết những ngày đắm say
Mỗi mùa hoa đỏ về hoa như mưa rơi rơi
Sau bài hát rồi em im lặng cái lặng im rực màu hoa đỏ
sau bài hát rồi em như thế em của thời hoa đỏ ngày xưa
sau bài hát rồi anh cũng thế ( hoa như mưa rơi rơi )
Anh của thời trai trẻ ngày xưa

Mỗi mùa hoa đỏ về hoa như mưa rơi rơi
Mỗi mùa hoa đỏ về hoa như mưa rơi rơi
Mỗi mùa hoa đỏ về hoa như mưa rơi rơi

DÀNH CHO EM

(Lưu Quang Vũ)

Dành cho em hoa của những khu vườn

Hoa huệ trắng hoa hồng thơm ngào ngạt

Mọi hương sắc của mùa hè ngây ngất
Anh muốn mang phủ ngập cả mình em

Dành cho em, mưa của mùa hè
Chợt ập xuống, sấm chuyển rung trời đất
Nước ào ạt trên đường, em ướt đẫm
Mưa mát lành cuốn sạch mọi buồn lo

Dành cho em, thành phố của mùa hè
Đường nhựa nắng, những mái nhà nóng bỏng
Khắp hè phố những trái cây ứa mật
Dành cho em nồng nhiệt của tình anh

Dành cho em sông dữ băng băng
Xiết đôi bờ như thác ào ra bể
Anh ôm em những đêm dài mạnh mẽ
Dành cho em tha thiết của mùa hè.

Dành cho em, cơn khát của mùa hè
Những việc bộn bề, những ngày gắng sức
Những gì tràn đầy, những gì sôi sục
Dành cho em, sức lực của đời anh

Dành cho em, thao thức của đời anh
Ngọn đèn sáng trên mặt bàn anh viết
Những đôi cánh mơ hồ ẩn hiện
Cả mũi tên không tới đích bao giờ

Dành cho em, im lặng của mùa hè
Sợi rong tối dưới làn nước sẫm
Đó là lúc những hàng rào mất tích
Của ta xưa, lại nở tím hoa bìm

Dành cho em, những mơ tưởng trong anh
Chiếc yên cương làm từ bụi cát
Những quả chuông ghép từ ánh sáng
Dành cho em vang bóng của mùa hè

Dành cho em, mặt trời không giấu che
Dọi gay gắt những đường rừng uẩn khúc
Sau đá nhọn, bỗng ào ào suối mát
Dành cho em, vầng trán của mùa hè…

Dành cho em, mong từng buổi em về
Cuộc đời ngỡ ngắn đi vì ngó đợi
Vải đã hết tu hú còn gọi mãi
Dành cho em, nỗi nhớ của mùa hè…

Phải nói là mình yêu bài thơ này kinh khủng, kinh khủng, mình vô cùng biết ơn Lưu Quang Vũ đã viết ra bài thơ này.

Một mùa hè của tận cùng trái tim, cảm xúc và tình yêu…

“Love is completing thoughts, actions and movements with out saying a word

Love is knowing you will never be alone again

Love is being able to close your eyes and see them in your minds eye..”

Hôm nay đọc được những câu này trên blog của anh Lừng tuyệt quá, đúng là những điều mình đã nghĩ về tình yêu, hoặc có thể đó là thứ tình yêu mà mình tìm kiếm. Tiếc là chưa tìm được. Thực ra cũng có Phương, mối tình đầu của tôi, hai đứa hiểu nhau đến nỗi, cho dù 2 năm trời không nói một câu nào với nhau sau một vụ giận dỗi, nhưng Phương lúc nào cũng vẫn automatic đèo mình khi đi chơi cùng cả bọn, gọi đúng thứ nước mà mình uống, và vẫn không hề nói với nhau câu nào. Nhưng kể cả vậy, mình biết và mình biết Phương biết,  là hai đứa thuộc về nhau, đáng yêu và đẹp quá mối tình của tuổi thơ. Có anh Dũng, anh Dũng cũng hiểu mình, hiểu cả những khi mình âm thầm chịu đựng những bất công của người khác, thậm chí còn hiểu cả những điều mà chính mình chưa bao giờ nghĩ đến. Chẳng bao giờ quên được lần nói chuyện cuối cùng, hai anh em chat khi anh đi du học về, mình cứ lải nhải chuyện mối mai anh với Tamti, dù thật ra là anh yêu ai thì mình cũng buồn thôi. Ngớ ngẩn thế nào tối về đọc lại đoạn chat, phát hiện ra có đúng 2 câu mà mình chưa đọc, chắc vì anh gõ nhanh quá:

“- Ít ra nó (Tamti) đã không dối lòng mình

- như  em”

Đọc xong té cả xỉu luôn. Rồi sao, đã chẳng bao giờ nói chuyện với anh nữa. Mình như một kể đứng đó, không có một sự thật nào trên người, không còn một nụ cười nào, không còn một vỏ bọc nào, sợ hãi và ngơ ngác..

 

Tình yêu là khi bạn biết rằng bạn sẽ không còn cô đơn nữa.

dành cho anh, nỗi nhớ của mùa hè

for a day of your life :-)

Đêm mùa hạ

Hai chị em đi bộ đêm, những đêm mùa hạ yên bình, ở bên nhau, thấy cuộc đời  êm đềm quá..

Chủ nhật này Thúy lấy chồng, cứ nghĩ đến chuyện đấy lại thương em, biết chồng em có yêu thương che chở được cho em không, con bé ngoan quá chừng ngoan mà chuân chuyên quá chừng chuân chuyên của chị. Phải hạnh phúc nhé, em..

Dương đang ngồi viết thư cho anh Q, những câu chuyện vào mùa hè đáng yêu ngọt ngào quá..

Mãi vẫn chưa xong bài để được đi chơi và về thăm Puchi, cưng ơi, nhớ chị nhiều không.

Đọc sách giáo khoa thổ tả của bọn bộ giáo dục là muốn nhồi máu cơ tim. Điều làm mình hoảng sợ là mình chợt hiểu ra rằng, cái kiểu dạy học ở cái đất nước này, là nó đầu độc bộ não, cách nghĩ và tư duy của một đứa trẻ từ trong trứng bằng những kiến thức ngu xuẩn và định kiến hèn hạ của chúng nó, những đứa trẻ của tôi, ôi những tâm hồn còn tinh khôi như trang giấy..

Mỗi lần dạy lũ trẻ xong lại thấy ấm lòng, muốn chúng được chỉ bảo bằng sự ân cần, yêu thương, và kiên nhẫn. Chúng nó phải được học những điều đẹp đẽ, được khơi dậy những suy nghĩ tự do. Thương lũ nhóc con, mà khổ, còn những việc khác phải làm.

Hôm trước, nói chuyện với Dương, bỗng nhiên mình nhận ra một điều là, nếu mình không làm đến cùng điều mình mong muốn và say mê, chắc đến khi chết mình sẽ day dứt lắm. Mình không muốn phải day dứt khi chết..

Khánh Ly hát bài này cao quá, nghe hát theo rát hết cả họng, may tìm được bản anh này chơi guitar  hát tông trầm tình cảm quá.

Nóng quá, ngoài trời hầm hập bức bối, cảm giác muốn giải nhiệt bằng cách nào đó, nhớ đến Xuân Quỳnh có bài thơ về mùa hè mà mình rất thích. Tên là Mùa hạ

Mùa hạ

Đó là mùa của những tiếng chim reo
Trời xanh biếc, nắng tràn trên khắp ngả
Đất thành cây, mật trào lên vị quả
Bước chân người bỗng mở những đường đi

Đó là mùa không thể giấu che
Cả vạn vật đều phơi trần dưới nắng
Biển xanh thẳm, cánh buồm lồng lộng trắng
Từ những miền cay đắng hoá thành thơ.

Đó là mùa của những ước mơ
Những dục vọng muôn đời không xiết kể
Gió bão hoà, mưa thành sông thành bể
Một thoáng nhìn có thể hoá tình yêu

Đó là mùa của những buổi chiều
Cánh diều giấy nghiêng vòm trời cao vút
Tiếng dế thức suốt đêm dài oi bức
Tiếng cuốc dồn thúc giục nắng đang trưa

Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa
Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn, hết?
Mà mặt đất màu xanh là vẫn biển
Quả ngọt ngào thắm thiết vẫn màu hoa.

Hay thật!

yêu sao cái mùa chẳng thiếu gì những cơn nóng điên cuồng, những ngày hè bỏng cháy, nhưng đó cũng là mùa của những trận mưa rào rào bất tận mát lành, của những ngày sáng bừng rực rỡ. Sau những tháng ngày u ám ảm đạm, lạnh lẽo, mùa hạ đến,  giây phút ấy tuyệt vời quá, bầu trời kia, chao ôi là mây xanh, và nắng và gió ùa trên khắp mọi ngả, những ngày tháng tư đẹp đẽ, hoa nở bừng khắp nơi, cuộc đời bỗng trở nên vội vàng hối hả. Trời ơi, đúng là mùa của những tiếng chim reo, của mật trào lên vị quả, của nắng tràn trên khắp ngả, của lối chân người mở những đường đi, cuộc sống dường như chợt mở ra, bao la và hào hứng quá…

Mình thấy rất vui bởi vì mình cũng sinh vào mùa hè, mùa yêu thích của mình, mọi người thường thích mùa thu, mình cũng thích mùa thu, nhưng mùa hè mới thật là đặc biệt, mùa hè là sự  sống, là sức sống, là tình yêu, là cảm hứng, niềm tin… Mùa của những hi vọng, những điều đẹp đẽ, của biển xanh thẳm và cánh buồm lồng lộng trắng, của những buổi chiều bát ngát, của những hàng me hàng phượng xôn xao, của những nụ cười tươi sáng thế..

Thôi, nói chung là mình hơi bị chập đó, nhưng thỉnh thoảng phải xả stress bằng cách này thôi đọc bài hoài chán quá

TAPIES: “TÔI MUỐN THAY ĐỔI CÁCH MỌI NGƯỜI NHÌN VÀO THẾ GIỚI”

Tàpies Antoni – họa sĩ trừu tượng sống và làm việc tại Barcelona, một trong những họa sĩ vĩ đại nhất trong nửa thứ hai của thế kỷ hai mươi, đã vừa qua đời vào ngày 6 tháng 2 năm 2012. Sau hơn 70 năm sáng tạo, ông đã để lại một di sản hơn 2000 tác phẩm có ý nghĩa lớn đối với nghệ thuật hiện đại. Được vinh danh bằng những giải thưởng hàng đầu danh giá nhất thế giới không chỉ vì những cống hiến quan trọng góp phần thay đổi nghệ thuật thế giới, mà còn bởi những nỗ lực tìm kiếm, thay đổi và thử nghiệm không ngừng nghỉ trong suốt cuộc đời sáng tạo của mình đối với mọi loại hình, phong cách, kĩ thuật, chất liệu.., Tàpies Antoni để lại dấu ấn cá nhân không thể trộn lẫn trên tất cả các sáng tác từ tranh, sắp đặt, đồ họa, điêu khắc, in thạch bản…

Thời thiếu niên dữ dội

Sinh ra trên mảnh đất cội nguồn của rất nhiều danh hoa lớn nổi tiếng thế giới, quê hương của Pablo Picasso, Salvador Dalí, và cả những họa sĩ lớn trong trường phái hội họa Baroque như Diego Velázquez, Francisco Goya, từ nhỏ, Tàpies đã được tiếp xúc với nghệ thuật đương đại thông qua các ấn phẩm của Catalan, trong đó có in bản sao tác phẩm của Picasso, Braque, Gris, Léger, Mondrian, Brancusi, Kandinsky, Duchamp, Arp, Miró.. Điều này đã tác động mạnh mẽ đến sự hình thành con đường nghệ thuật của Tàpies sau này.

Nhưng không chỉ nổi tiếng bởi sự giàu có tài năng nghệ thuật, Tây Ban Nha còn được biết đến bởi cuộc nội chiến kinh hoàng vào năm 1936, khiến hơn 200.000 ngàn người dân Tây Ban Nhà bị thảm sát trong một cuộc trả thù đẫm máu của thủ lĩnh chế độ độc tài Francisco Franco. Cuộc nội chiến làm tăng thêm sự căng thẳng dẫn đến Đại chiến Thế giới thứ hai, và trong một chừng mực nào đó, trở thành đấu trường cho cuộc xung đột thế giới rộng lớn. Những vụ đàn áp chính trị và chính kiến của cuộc nội chiến ảnh hưởng vượt ngoài các lãnh thổ Tây Ban Nha và khiến giới trí thức cũng như cộng đồng chính trị quốc tế xúc động mạnh mẽ. Như Albert Camus đã nói “Chính tại Tây Ban Nha mà thế hệ chúng tôi học được rằng: dù có lẽ phải, vẫn có thể bị đánh bại, rằng sức mạnh vẫn có thể đè bẹp được ý chí, rằng có những lúc mà bao nhiêu lòng quả cảm cũng không đủ để bù lại được. Chính vì lẽ ấy mà biết bao người, trên toàn thế giới, coi sự kiện bi thảm ở Tây Ban Nha như tấn bi kịch của chính bản thân mình”.

Tàpies đã ở lạiBarcelonatrong những năm tháng đó, để chứng kiến nỗi kinh hoàng khủng khiếp của cuộc chiến tranh trên chính mảnh đất quê hương. Cuộc chiến kết thúc với thất bại của đảng dân chủ hợp pháp thuộc chính phủ Đệ nhị Cộng hòa Tây Ban Nha – mà cha của Tàpies đã từng là cố vấn pháp lý. Những năm tháng thiếu niên trưởng thành trong chính giai đoạn đầy những biến động chính trị và quân sự dữ dội đó trên đất nước Tây Ban Nha đã để lại ấn tượng sâu sắc trên nhiều phương diện cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Tàpies.

Con đường nghệ thuật

Vào năm 1942, sau khi hồi phục từ một cơn bệnh phổi nặng khiến sức khỏe suy giảm và gián đoạn việc học hành trong nhiều năm, Tàpies bắt đầu những thử nghiệm đầu tiên với nghệ thuật bằng việc sao chép các tác phẩm sơn dầu Van Gogh và Picasso. Một năm sau Tàpies ghi danh vào một khóa học luật tại Đại học Barcelona, vào năm 1946 ông từ bỏ hẳn việc theo đuổi tấm bằng tốt nghiệp Luật khoa để tiếp tục học vẽ 2 tháng tại học viện Valls-Barcelona, nơi ông gặp nhà thơ và nhà phê bình nghệ thuật Josep Maria Junoy, người có ảnh hưởng góp phần khiến ông quyết định cống hiến trọn cuộc đời mình cho nghệ thuật. Rất nhiều chân dung và tự họa từ năm này vẫn được lưu giữ, cùng một số bản vẽ chịu ảnh hưởng của Picasso và chủ nghĩa siêu thực. (Ảnh 1: chân dung tự họa)

Những tác phẩm đầu tiên của Tàpies biểu lộ tính nguyên sơ mạnh mẽ rất gần với chủ nghĩa Dada, hoặc nghệ thuật của trẻ em, hay những người có trải nghiệm bất thường trong cuộc sống hoặc trạng thái cùng cực về tinh thần như người tâm thần, người khuyết tật, và do đó, rất gần Art Brut. Thậm chí, một vài trong số đó đã dự báo trước những sáng tác với các vật liệu lạ sau này – chúng cho thấy dấu ấn của trường phái Siêu thực trong cách thức coi trọng biểu tượng, những dấu hiệu ám chỉ đầy tính ẩn dụ, tưởng tượng. Một vài trong số đó có thể kể đến như tác phẩm: Zoom (1946), (Head and flag, 1946) Creu de paper de diari (Newsprint Cross, 1946-47). (Ảnh 2: zoom và creu)

Trong tác phẩm này – Zoom – có thể thấy cách thể hiện của họa sĩ rất gần với nghệ thuật nguyên sơ của trẻ em, hay nghệ thuật của những người bị chấn thương về tinh thần sau chiến tranh. Và cũng như tất cả những lý thuyết về trường phái nguyên sơ, những thứ được biểu lộ trong Zoom như một ngụ ý về sự từ chối nền văn minh hiện đại. Tác phẩm gợi đến mong ước trở lại thế giới tiền công nghiệp, trong mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên. Việc sử dụng đồng thời hai dấu hiệu: Biểu tượng (khuôn mặt ngườ)i – motif này đại diện cho tất cả mọi thứ liên quan tinh thần, đối lập với các yếu tố vật chất và chỉ số (dấu tay), tác phẩm là một dự báo trực tiếp cho những bức tranh đắp vật liệu nổi tiếng sau này của ông.

Trong khi đó, tác phẩm làm từ giấy báo in Creu de diari (1946-1947), lại không có sự tương đồng với nghệ thuật cắt dán của Braque, Picasso, hay Schwitters’ Merz, mà liên quan nhiều hơn đến phong trào tượng trưng cuối thế kỷ. Thực tế để hình thành thập giá này, nghệ sĩ đã cố tình chọn mục cáo phó của tờ báo Công giáo, và cùng với giấy in báo, ông cũng được sử dụng một loại giấy trông giống như giấy vệ sinh, và tất cả những điều này nói với chúng ta về sự siêu việt của những gì là chất liệu thấp kém và linh hồn của vật liệu. Motif chữ thập hoặc cây thánh giá xuất hiện rất nhiều trong các sáng tác của Tàpies ở các giai đoạn khác nhau, được làm bởi những vật liệu tầm thường. Kiếm tìm ý nghĩa của hành động này đưa ta trở lại với kí ức, rằng mẹ Tàpies – María Puig i Guerra, là một người Công giáo mộ đạo, con gái của một cánh hữu nổi bật ly khai, đã nhấn mạnh về một nền giáo dục tôn giáo cho con trai mình trong suốt những biến động của thời kỳ này. “Trong thế giới của chúng ta, hình ảnh tôn giáo đang mất đi ý nghĩa của chúng, và chúng ta đang mất đi cảm giác về sự vĩnh cửu” – ông phát biểu trong một lần trả lời phỏng vấn.
Thời kì siêu thực

Trong những năm bốn mươi, các nghệ sĩ trẻ thể hiện sự quan tâm đến chủ nghĩa siêu thực, trào lưu tiên phong cuối cùng phát triển ở Tây Ban Nha Trước khi cuộc nội chiến nổ ra, như một phản ứng đối với nghệ thuật bảo thủ được hỗ trợ bởi chế độ độc tài Franco. Sự bắt đầu của thời kỳ siêu thực của Tàpies trùng hợp với sự ra đời vào năm 1948, tạp chí “Dau al Set” do ông đồng sáng lập cùng với các nghệ sĩ và nhà văn. Đồng thời phát triển một mối quan tâm ngày càng tăng đối với phân tâm học, chủ nghĩa siêu thực và khoa học hiện đại. Chịu ảnh hưởng bởi Miró và Klee, ông ngày càng trở nên quan tâm đối đến các biểu tượng và những hình ảnh huyền ảo, tưởng tượng đầy bí ẩn.

(Ảnh 4: Para…)
Có thể quan sát thấy trong Parafaragamus những ảnh hưởng của Miró, bên cạnh các yếu tố bắt nguồn từ nghệ thuật Klee. Giống như người nghệ sĩ Thụy Sĩ, ông thể hiện những yếu tố không phải từ bên ngoài mà ở chính bên trong nhằm bộc tỏ thế giới nội tâm theo một một cách thức tuyệt vời vượt ra ngoài những hạn chế hình ảnh. Tương tự, một trong những mô-típ trung tâm của Parafaragamus là một phối cảnh đa chiều, giống như Klee, Tàpies đặt những hình khối tam giác hoặc vuông trên một nền ba chiều, do đó, bức tranh được hình thành trên cả hai bề mặt và độ sâu. Cũng như rất nhiều tác phẩm thời kì này, cái tên Parafaragamus được gợi ý bởi nhà thơ Brossa – người đồng sáng lập tạp chí và nhóm nghệ sĩ cùng tên Dau al Set. Không còn nghi ngờ gì nữa, thời kì “siêu thực” của Tàpies, là một sự cộng sinh nhất định đã được thiết lập giữa các họa sĩ và nhà thơ. Tuy nhiên, Tàpies sớm nhận thức rõ ảnh hưởng này và kết thúc hướng đi đó để khám phá các những con đường khác.

Kiếm tìm bản sắc

Vào năm 1950 ông làm triển lãm solo đầu tiên tại Barcelona (Galeries Laietanes). Với một khoản tài trợ từ chính phủ Pháp, ông đã đến sống và sáng tác tại Paris. Trong thời gian đó, ông trở nên quan tâm đến chủ nghĩa Mác và những tranh cãi xung quanh chủ nghĩa hiện thực xã hội. Năm 1953, ông có triển lãm đầu tiên tại Mỹ ở Gallery Jackson Martha, nơi ông lần đầu tiên nhìn thấy những tác phẩm của các họa sĩ Biểu hiện trừu tượng: “Họ đang vật lộn với bức tranh sơn dầu, bằng cách sử dụng màu sắc dữ dội và nét cọ cực lớn,” ông nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn với The New York Times vào năm 1995. “Tôi đến với những bức vẽ xám, im lặng, đầy áp bức”. Giai đoạn này nghệ thuật của Tàpies trở nên trừu tượng mạnh mẽ như một phản ứng với thời kỳ trước, thể thiện tinh thần mở về chính trị và xã hội. Ông tập trung vấn đề thị giác, như hình khối, màu sắc và đôi khi cũng có thể lặp lại những ý tưởng trào lưu Neo-Plasticist (Tân tạo hình). Nhưng những thử nghiệm đó đều rất ngắn. Bởi vì những cái mà ông quan tâm vượt ra ngoài biên giới của những cách thể hiện chính thức (formal). (ảnh 5: Black form on grey square.

Trong những năm sau chiến tranh có một sự quan tâm chung giữa các nghệ sĩ trên cả hai mặt của Đại Tây Dương với chất liệu. Nhận thức về bom nguyên tử và những khám phá công nghệ mới đã làm dấy lên một sự tò mò mạnh mẽ đối với khoa học, các ý tưởng mới về không gian – thời gian và vật chất. Cùng lúc đó, sáng chế kính hiển vi điện tử mang lại một cái nhìn mới mẻ về vật chất và tự nhiên. (có thể thêm là t cảm thấy gì..) Trong thời gian này, Tàpies phát triển mối quan tâm ngày càng sâu sắc đến triết lý Đông Phương, ở đó, ông đồng điệu với quan điểm tinh thần và thể xác là một và muốn phá tan biên giới của tư tưởng nhị nguyên nhằm thể hiện một thế giới trở về bản thể chân thật của nó là thân tâm nhất như (thân thể với tâm hồn là một).

Từ năm 1954, ông nhanh chóng trở lại với những nghiên cứu của mình từ 8 năm trước và thử nghiệm với rất nhiều hình thức mới trong tác phẩm của mình, tập trung vào các vật liệu tự nhiên, thường bị coi là vật liệu thấp kém như đất, đá cẩm thạch, xi măng, cát, bụi và đất sét màu và nhiều thứ khác, đồng thời sử dụng rất nhiều kĩ thuật mới lạ như: kĩ thuật cào, nạo, làm trầy xước, sơn và cắt, dán, ghép.v.v.. – những cái mà sau này đã hình thành nên một thể loại sáng tác mới, được biết đến rộng rãi như là tác phẩm đắp vật liệu, đánh dấu sáng tạo của riêng ông trong nền nghệ thuật hiện đại. (ảnh 6)

Trong các bức tranh đắp nổi đó, các vật liệu không còn được sử dụng như một phương tiện để biểu đạt ý tưởng, mà bản thân chúng đã là ý tưởng. Quá trình thực hiện tác phẩm đã xác định hoàn toàn nội dung của nó, trong một sự hòa hợp chính xác giữa chất liệu và hình thức, giữa ý tưởng và ngôn ngữ thể hiện. Kỹ thuật thông qua quá trình sáng tạo bức tranh vật liệu truyền tải khái niệm “vô hình dạng”. Đầu tiên ông phủ một lớp sơn lên bề mặt toan, trước khi nó khô và ông đắp bụi đá cẩm thạch, đất, cát và các vật liệu khác và chất tạo màu. Sau đó, vẽ thêm vào những vùng khác của bức tranh , tạo một con số, vật thể hoặc đơn giản là một vết nhơ. Khi các lớp cuối cùng bắt đầu khô, bề mặt vật liệu sẽ bị rạn nứt và cho thấy các thành phần cấu trúc của nó. Đôi khi ông còn gây ấn tượng mạnh hơn bằng cách cạo sơn ở một vài chỗ.

Những vết rạch, xước và những vết nhơ đó, cuối cùng đã phát triển và mở ra thành một cái gì đó tĩnh lặng và sâu thẳm: “Một ngày, tôi đã cố gắng đi tới sự im lặng… Hàng triệu vết cào rạch giận dữ đã được chuyển đổi thành hàng triệu hạt bụi, cát… Và tôi tìm thấy một cảnh tượng hoàn toàn mới, như trong câu chuyện của một người xuyên qua chiếc gương soi, mở ra trước tôi như thể để kết nối những bí mật tinh thần của mọi thứ… Và bất ngờ lớn nhất là việc khám phá ra, vào một ngày, đột nhiên, các bức họa của tôi, lần đầu tiên trong lịch sử, đã trở thành những bức tường”. Tuy nhiên, tất cả các “bức tường” và những hình ảnh liên quan đều có chung một đặc tính: gợi ý của một cái gì đó nằm ngoài thế giới vật chất nhưng chỉ được cảm nhận trong sự vắng mặt của nó. Những bức tường, như chính ông đã nói: “làm chứng cho cuộc từ vì đạo của người dân chúng tôi”. Những tác phẩm đầy tính cá nhân và biểu thị một cái Tôi mạnh mẽ này (trong tiếng Catalan, Tàpies có nghĩa là “bức tường”) đã chứng minh thuyết phục cho mong ước phá vỡ thuyết nhị nguyên của phương Tây của ông. Bởi vì ở đó, người ta nhận ra rằng, chính những vật liệu tầm thường kia, hơn tất cả, đã khiến ta bị chấn động mạnh mẽ bởi tiếng nói linh hồn của nó, nó từ chối, và bằng sự im lặng tuyệt đối của mình, phá vỡ những quan niệm bảo thủ và cái nhìn hời hợt của chúng ta về thế giới này. (ảnh 7:armari)

Đấy cũng chính là điều mà T đã mong muốn: “các nghệ sĩ phải như một “nhà giả kim thuật của tinh thần” – một người nào đó có thể biến đổi bên trong chúng ta hơn cả chính chúng ta. Ý nghĩa giả kim thuật có thể được tìm thấy trên hầu hết các tác phẩm của ông, những tác phẩm chứa đầy các dấu hiệu bí ẩn và từ viết tắt bất khả giải mã, gợi đến những mật mã đầy ma thuật. Và như vậy Tàpies cung cấp cho chúng ta một tầm nhìn duy vật về thế giới, trong đó mọi thứ hòa vào nhau, ở trong nhau. Ông quan niệm công việc của mình như là một hình thức thiền định về “khoảng trống” – cụ thể hơn, “đó là trò chơi của cái Không và Có, sự kết hợp làm nên tất cả mọi thứ và tiết lộ ý nghĩa sâu xa của tự nhiên”.

Mặc dù phần lớn các tác phẩm nghệ thuật Tàpies giải quyết các vấn đề phổ quát, ông không bao giờ bỏ qua mục tiêu suốt đời mình về dân chủ, công bằng xã hội và tự chủ cho Catalonia. Năm 1966, ông bị bắt giữ và bị phạt vì tham dự một cuộc họp chính trị bí mật và đã tham gia vào cuộc biểu tình chống lại án tử hình. Những tác phẩm thời kì này cũng công khai thể hiện mối quan tâm về chính trị và xã hội của ông. Trong Spirit Catalan (1971), màu đỏ và màu vàng của lá cờ quốc gia đi kèm với những hình graffiti chính trị điên cuồng, trong khi Companys (1974) đề cập đến các nhà lãnh đạo cộng hòa Texas Lluis Companys – những người bị Franco hành khuyết vào năm 1940. Cả hai tác phẩm được thể hiện sống động bởi những vệt sọc máu, những vết máu bắn lên tường, trong khi tác phẩm RomanPainting và Cap năm 1971 là hình mũ đỏ tươi của nông dân Catalan, được treo bởi một sợi dây thừng.

Trong cuối những năm sáu mươi và đầu bảy mươi, khi các hoạt động chính trị của ông gia tăng, những tác phẩm Tàpies thậm chí còn nhiều vật thể hơn. Không có nghi ngờ gì nữa, sự quan tâm trở lại đầy mới mẻ đối với vật thể trùng hợp với nỗ lực phong trào Arte Povera ở châu Âu và hậu tối giản tại Hoa Kỳ (còn được gọi trào lưu nghệ thuật nghèo các nghệ sĩ sử dụng những vật liệu phổ biến của thời kỳ tiền công nghiệp nhằm thể hiện sự quan tâm tìm hướng đi khác hay cách tiếp cận mới mẻ để làm nghệ thuật), tuy nhiên ông không thể hiện các đối tượng như hình ảnh nguyên bản của nó mà làm cho nó trở thành một thứ ngôn ngữ của riêng ông. Không giống như những tác phẩm Povera hoặc Minimalist, nhìn chung các vật thể của Tàpies là không can thiệp vào không gian nào cụ thể, chúng được hấp thụ bởi cấu trúc mà chúng được kết hợp vào, như chúng ta có thể thấy trong Palla i fusta (Straw and wood, 1969) hoặc Pantalons sobre bastidor (Trousers on stretcher, 1971).

Mặc dù những sáng tác của ông cho thấy sự nhạy cảm đặc biệt đối với đồ vật, Tapies không bao giờ từ bỏ việc vẽ tranh hay làm các tác phẩm đồ họa. Trong những năm sau này của ông, nghệ thuật của Tapies vẫn tinh tế và đa dạng hơn bao giờ hết. Ông cảm thấy không cần thiết phải phân chia sự nghiệp của mình vào giai đoạn cố định, mà tiếp tục thử nghiệm với một loạt các hình ảnh và các phương tiện khác nhau: đất nung, điêu khắc, in thạch bản, sắp đặt, và đặc biệt trong những năm cuối này, ông làm việc rất nhiều với các vật liệu kim loại như đồng, nhôm, thiếc ..v.v. (ảnh 8, 9)

Các tác phẩm của ông dường như đều bộc lộ sự phản ánh nỗi đau cả về thể chất và tinh thần – được hiểu như là một phần của cuộc sống. Bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Phật giáo, Tàpies tin rằng hiểu biết sâu sắc hơn về nỗi đau cho phép chúng ta xoa dịu những ảnh hưởng của nó và do đó cải thiện chất lượng cuộc sống. Qua khứ, luôn là một hằng số trong những tác phẩm của ông, giờ đây mang đến một sắc diện mới như một kinh nghiệm cá nhân mang lại hiểu biết nhiều hơn về chính bản thân mình và cả thế giới xung quanh. Nói về chủ đề này, ông chia sẻ: “Nỗi đau đớn của những người trưởng thành và tất cả những ám ảnh tàn khốc của những con người thuộc thế hệ tôi – những người dường như bị bỏ rơi trong cơn lốc của thảm họa, xuất hiện để ghi dấu chính họ trên các bức tường xung quanh tôi”.

Trên tất cả, có thể nhận ra trong sự nghiệp sáng tác, Tapies đã phát triển các chủ đề thiết yếu của mình về tâm linh của thế giới vật chất, và giá trị vô hạn và sự bí ẩn vốn có trong cả những điều khiêm tốn nhất. Sir Roland Penrose – họa sĩ, nhà thơ lớn người Anh kết luận bằng cách ghi nhận rằng: “mục đích cuối cùng của nghệ thuật Tàpies là siêu việt” và “hy vọng sâu xa nhất của ông là sự thay đổi nhân loại thông qua những nghiên cứu thể hiện mối quan tâm sâu sắc về vũ trụ mà trong đó, đối với ông không có gì nào là tầm thường”. Những tác phẩm mà, như Tàpies tự viết: ông đã tìm kiếm “để nhắc nhở con người về những thứ mà anh ta thực sự là, trao cho anh ta một tấm gương để phản chiếu, và gây sốc để giải cứu anh ta khỏi sự điên rồ của giả dối và dẫn dắt anh ta khám phá chính bản thân mình”.

Không chỉ làm việc hết mình như một nghệ sĩ, ông còn xuất bản một khối lượng lớn sách, và những bài bút chiến bảo vệ tự do trong nghệ thuật của mình. Những ý tưởng mạnh mẽ của ông có ảnh hưởng to lớn đến nghệ thuật hiện đại thế giới, được công nhận bằng những giải thưởng danh giá của cộng đồng quốc tế, tác phẩm của ông đã được sưu tập tại các bảo tàng và trình chiếu tại triển lãm quan trọng trên toàn thế giới. Năm 1980 Bảo tàng nghệ thuật đương đại Tây Ban Nha ở Madrid đã lần đầu tiên tổ chức một cuộc triển lãm lớn các sáng tác trong cuộc đời Tàpies.

Năm 1984, Quỹ Tàpies (Fundació Antoni Tàpies) được thành lập, dành riêng cho việc nghiên cứu nghệ thuật hiện đại. Trong tháng 4/2010 tác phẩm trong 20 năm sáng tạo của ông là chủ đề của một cuộc triển lãm được tổ chức đánh dấu mở cửa trở lại của Quỹ Tàpies. “Ảo tưởng của tôi là để có một cái gì đó để truyền tải,” ông nói khi bảo tàng mở cửa vào năm 1990. “Nếu tôi không thể thay đổi thế giới, ít nhất tôi cũng muốn thay đổi cách mọi người nhìn vào nó.”
Hai năm trước, Antoni Tapies được Nhà vua Tây Ban Nha Juan Carlos trao tặng danh hiệu: Hầu tước Tàpies vì những đóng góp lớn cho nghệ thuật thị giác và đất nước Tây Ban Nha.

Mùa hè đang đến, những ngày này đẹp quá, trời nhiều gió và nắng nhưng chưa nóng, sau những ngày u ám và nồm ẩm thì thật tuyệt vời khi sống giữa nắng gió và ánh sáng. Mình bị nghiện ánh sáng hay sao ấy, giá mà có 1 cái nhà riêng thì mình muốn làm nó bằng 1 nửa là kính, để lúc nào cũng tràn ngập ánh sáng trong nhà và cảm nhận rõ ràng sự thay đổi của bầu trời. Đi đến nhà ai cũng thấy mọi người làm kiểu gì mà nhà cứ tối om như hũ nút. Mình nghĩ phải tay mình thì mình đập hết cái đống tường ấy đi thay bằng kính thì có mà tuyệt cú mèo. Mỗi một ngày chỉ ngồi trong nhà thôi cũng được chiêm ngưỡng bao nhiêu cảnh tượng đẹp đẽ của đất trời, như lúc sớm mai lấp lánh nắng, hay buổi chiều trời xanh ngan ngát hoặc lúc sắp giống, lá và bụi bay ào ạt, tuyệt hảo!!!!

Căn nhà mình ở quê, yêu nhất là cái sân phơi sau phòng. lúc nào cũng bát ngát gió, cảm giác có thể bay lên được ấy, nhìn xung quanh, chỉ có cánh đồng rau và vài người làm nông, thanh bình yên ả.

Puchi đã lớn và ham chơi lắm, mình giờ phải tích cực nhốt cậu lại không thì đi chơi lắm quá, sợ làm hỏng  ruộng rau người ta đánh bả cho thì toi mất hu hu. Cả ngày nằm sau cổng trông cu cậu bùn lắm, nên thương tình chiều lại cho sang bên sân Hoàng lê để cậu chơi với bạn chó đen. Yêu và thương em lắm.

 

Đi đền về, Dương hỏi:

“Chị cầu gì.

Chị cầu sức khỏe cho mình với cả cho bố mẹ.

Ô thế không cầu tình duyên à.

Không, uh quên mất đấy, mà thực ra lâu nay chị cũng quên tiệt vụ cầu tình duyên đấy”

“Em vẫn chưa quen với việc không có ai nhắn tin chúc ngủ ngon trước khi đi ngủ chị ạ.

Thế à, uh, đấy, giờ chị còn chả hề nghĩ đến chuyện đó”

Dạo này chả quan tâm gì đến chuyện yêu đương nữa, mình thấy làm một công việc mình yêu thích, tập thể dục đều đặn, và có puchi để yêu là quá quá đủ hạnh phúc rồi, đến mức mình cảm giác như giờ có một anh nào, như bất kì anh người yêu nào cũ, bước vào cuộc sống của mình thì hẳn mình thấy phiền hà lắm. Tất nhiên sâu thẳm trong lòng thì mình vẫn hi vọng gặp được người mà mình thực sự cảm thấy hạnh phúc, nhưng mình không nghĩ nhiều về điều đó, nó là duyên số, hoặc nếu mãi mà cũng ko tìm được người nào như thế thì lấy đại ai đó mà mình không yêu, chứ sẽ không giết thời gian vào những mối tình đầy hoang mang, lo lắng như trước nữa. Dương bảo thế sao lại cứ nhất thiết phải lấy chồng, sao không sống một mình đi chị. Mình bảo mình không nghĩ là mình sẽ đủ mạnh mẽ để sống một mình vào lúc 45 tuổi. Bây giờ đang giai đoạn 3 ,ấy thì thấy ok ko sao, nhưng khi già sống một mình thấy thiếu an toàn sao đó. Riêng đoạn sợ ma, hoặc sợ chuột đã đủ hãi rồi.

Nói chung chưa bao giờ có một nỗi thèm muốn được sống lành mạnh như bây giờ, cả đầu óc, cơ thể và tâm hồn. Mà tình yêu thì chưa bao giờ mang lại cho mình điều đó.

 

Nghỉ lễ, gặp Tâm, lại chuyện dạo này tao hục mặt kiếm tiền m ạ,  T mới có suất mua chung cư, đang xoay xở để kiếm tiền đóng. Tiền tiền tiền… ôi giời, bây giờ đi với nó không biết có chủ đề gì mà không dính đến tiền, mình hiểu ra là đã trao thân gửi phận vào chỗ NHNN cám lợn ấy, thì làm gì có nỗi quan tâm nào ngoài tiền, quyền, và sếp.  Nó bảo hôm nọ t nhờ Dương, định nếu được việc thì chị em chia nhau ít tiền, mình nghĩ lại lúc đó đáng nên nói luôn cho nó biết là trên đời này không phải ai cũng giúp nhau vì tiền, người ta cần nhiều thứ hơn là tiền, nếu cứ có cái ý nghĩ lấy tiền ra để tạo quan hệ thì sẽ chỉ có những mối quan hệ thực dụng và lợi dụng thôi, chứ chẳng có những đứa bạn như Dương hoặc mình đâu, điên hết cả tiết.

Ngày nào nghĩ đến Dương lại muốn cảm ơn cuộc sống vì đã được gặp em.

Thôi đi làm bài, nhớ puchi quá, nhớ puchi quá